×

Xâm phạm quyền tác giả

Xâm phạm quyền tác giả

Định nghĩa

Xâm phạm quyền tác giả là hành vi sử dụng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, hoặc sử dụng vượt quá phạm vi cho phép theo quy định của pháp luật, gây thiệt hại đến quyền và lợi ích hợp pháp của chủ sở hữu quyền tác giả.

Cơ sở pháp lý

Các quy định pháp luật liên quan đến xâm phạm quyền tác giả tại Việt Nam bao gồm:

  • Luật Sở hữu trí tuệ số 50/2005/QH11 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 36/2009/QH12, Luật số 42/2019/QH14 và đặc biệt là Luật số 07/2022/QH15 có hiệu lực từ ngày 01/01/2023.
  • Nghị định số 17/2023/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan.
  • Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 12/2017/QH14 (Điều 225 về Tội xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan).
  • Nghị định số 131/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về quyền tác giả, quyền liên quan (đã được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 28/2017/NĐ-CP và Nghị định số 17/2023/NĐ-CP).
  • Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.

Phân tích chi tiết

Hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định cụ thể tại Điều 28 Luật Sở hữu trí tuệ (sửa đổi, bổ sung 2022) và có thể bị xử lý theo các hình thức khác nhau:

1. Các hành vi xâm phạm quyền tác giả

  • Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm.
  • Mạo danh tác giả.
  • Công bố, phân phối tác phẩm mà không được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Sửa chữa, cắt xén hoặc xuyên tạc tác phẩm dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của tác giả.
  • Sao chép tác phẩm mà không được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả, trừ các trường hợp quy định tại Điều 25 và Điều 25a Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Làm tác phẩm phái sinh mà không được phép của tác giả hoặc chủ sở hữu quyền tác giả đối với tác phẩm được dùng để làm tác phẩm phái sinh, trừ các trường hợp quy định tại Điều 25 và Điều 25a Luật Sở hữu trí tuệ.
  • Sử dụng tác phẩm mà không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật hoặc không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Cho thuê bản gốc hoặc bản sao tác phẩm điện ảnh, chương trình máy tính mà không trả tiền nhuận bút, thù lao và quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật.
  • Nhập khẩu, phân phối bản sao tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả.
  • Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị kỹ thuật, sản phẩm, linh kiện hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó có vai trò chủ yếu trong việc vô hiệu hóa biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả.
  • Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu hóa biện pháp công nghệ hữu hiệu do tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả thực hiện để bảo vệ quyền tác giả của mình.
  • Cố ý xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới dạng điện tử có trong tác phẩm.
  • Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho thuê thiết bị kỹ thuật, sản phẩm, linh kiện hoặc cung cấp dịch vụ khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị, sản phẩm, linh kiện hoặc dịch vụ đó có vaivai trò chủ yếu trong việc tạo điều kiện hoặc thực hiện hành vi xóa, thay đổi thông tin quản lý quyền dưới dạng điện tử.
  • Phát sóng, truyền đạt tới công chúng tác phẩm mà không được phép của chủ sở hữu quyền tác giả, không trả tiền nhuận bút, thù lao, quyền lợi vật chất khác theo quy định của pháp luật.
  • Lách hoặc vô hiệu hóa các biện pháp công nghệ bảo vệ quyền tác giả.

2. Các hình thức xử lý

Tùy thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi xâm phạm, chủ thể vi phạm có thể bị xử lý theo các hình thức sau:

  • Xử phạt hành chính: Áp dụng theo Nghị định số 131/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung) với các mức phạt tiền và biện pháp khắc phục hậu quả như buộc tiêu hủy tang vật, buộc gỡ bỏ thông tin vi phạm.
  • Trách nhiệm dân sự: Chủ sở hữu quyền tác giả có quyền yêu cầu chấm dứt hành vi xâm phạm, bồi thường thiệt hại (bao gồm thiệt hại vật chất và tinh thần), buộc công khai xin lỗi, cải chính.
  • Trách nhiệm hình sự: Đối với các hành vi xâm phạm nghiêm trọng, có đủ yếu tố cấu thành tội phạm theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), người vi phạm có thể bị phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.

Ví dụ thực tiễn

Một ví dụ điển hình về xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả là vụ việc Cục Bản quyền tác giả (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch) đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với hai công ty vì hành vi sao chép, in ấn, phát hành sách không có bản quyền. Cụ thể, Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Miền Trung bị phạt 25 triệu đồng và Công ty Cổ phần Sách và Thiết bị giáo dục Miền Nam bị phạt 30 triệu đồng, đồng thời buộc tiêu hủy toàn bộ tang vật vi phạm. Vụ việc này cho thấy sự quyết liệt của cơ quan chức năng trong việc bảo vệ quyền tác giả, đặc biệt trong lĩnh vực xuất bản.

Theo Tuổi Trẻ, vụ việc này diễn ra vào tháng 6/2023.

Khuyến nghị pháp lý

Để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình trước các hành vi xâm phạm quyền tác giả, các tác giả và chủ sở hữu quyền tác giả nên chủ động thực hiện các biện pháp sau:

  • Đăng ký quyền tác giả: Mặc dù quyền tác giả phát sinh từ thời điểm tác phẩm được sáng tạo và thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định mà không cần đăng ký, việc đăng ký tại Cục Bản quyền tác giả sẽ cung cấp bằng chứng pháp lý vững chắc về quyền sở hữu, giúp việc chứng minh và bảo vệ quyền lợi dễ dàng hơn khi có tranh chấp.
  • Theo dõi và giám sát: Thường xuyên theo dõi việc sử dụng tác phẩm của mình trên các nền tảng khác nhau (internet, xuất bản, biểu diễn…) để kịp thời phát hiện các hành vi xâm phạm.
  • Thu thập chứng cứ: Khi phát hiện hành vi xâm phạm, cần nhanh chóng thu thập đầy đủ chứng cứ (ảnh chụp, video, bản ghi âm, đường link, văn bản…) để làm cơ sở cho việc yêu cầu xử lý.
  • Gửi thông báo yêu cầu chấm dứt vi phạm: Trong nhiều trường hợp, việc gửi văn bản cảnh báo hoặc yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm có thể giải quyết vấn đề mà không cần đến các biện pháp pháp lý phức tạp hơn.
  • Tìm kiếm sự tư vấn pháp lý: Khi đối mặt với các hành vi xâm phạm phức tạp hoặc khi các biện pháp tự bảo vệ không hiệu quả, việc tìm đến các chuyên gia pháp lý là vô cùng cần thiết. Các luật sư từ Phan Law Vietnam, với kinh nghiệm chuyên sâu về sở hữu trí tuệ, có thể hỗ trợ đánh giá mức độ vi phạm, tư vấn về các hình thức xử lý phù hợp và đại diện thực hiện các thủ tục pháp lý cần thiết để bảo vệ quyền lợi của bạn một cách hiệu quả nhất.

Câu hỏi thường gặp (FAQ)

Dưới đây là một số câu hỏi thường gặp về xâm phạm quyền tác giả:

1. Ai có quyền khởi kiện khi quyền tác giả bị xâm phạm?

Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc tổ chức, cá nhân được tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả ủy quyền hợp pháp có quyền khởi kiện yêu cầu xử lý hành vi xâm phạm quyền tác giả.

2. Mức phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả là bao nhiêu?

Mức phạt hành chính đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả được quy định tại Nghị định số 131/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung). Tùy thuộc vào hành vi cụ thể và giá trị tang vật vi phạm, mức phạt tiền có thể lên đến hàng trăm triệu đồng đối với cá nhân và gấp đôi đối với tổ chức, kèm theo các biện pháp khắc phục hậu quả.

3. Xâm phạm quyền tác giả có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự không?

Có. Theo Điều 225 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), hành vi xâm phạm quyền tác giả, quyền liên quan có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu gây thiệt hại từ 50 triệu đồng trở lên hoặc thu lợi bất chính từ 30 triệu đồng trở lên, hoặc có các tình tiết tăng nặng khác. Mức phạt có thể là phạt tiền, cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù.

4. Làm thế nào để chứng minh quyền tác giả bị xâm phạm?

Để chứng minh quyền tác giả bị xâm phạm, cần cung cấp các bằng chứng về quyền sở hữu tác phẩm (giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, bản gốc tác phẩm, các tài liệu chứng minh quá trình sáng tạo) và các bằng chứng về hành vi xâm phạm (bản sao tác phẩm vi phạm, hình ảnh, video, chứng cứ về việc sử dụng trái phép, chứng cứ về thiệt hại…).

5. Thời hiệu khởi kiện đối với hành vi xâm phạm quyền tác giả là bao lâu?

Theo Bộ luật Dân sự 2015, thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là 03 năm, kể từ ngày người có quyền yêu cầu biết hoặc phải biết quyền, lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm. Đối với các yêu cầu khác liên quan đến quyền tác giả, thời hiệu có thể khác nhau tùy thuộc vào bản chất của yêu cầu.