Chấm dứt hợp đồng lao động
Định nghĩa
Chấm dứt hợp đồng lao động là việc quan hệ lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động kết thúc theo các căn cứ được pháp luật quy định. Khi hợp đồng lao động chấm dứt, các quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng cũng sẽ chấm dứt, đồng thời phát sinh các quyền và nghĩa vụ mới liên quan đến việc thanh toán các khoản tiền, trả sổ bảo hiểm xã hội, và các thủ tục khác theo quy định của pháp luật lao động.
Cơ sở pháp lý
- Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, có hiệu lực từ ngày 01/01/2021.
- Nghị định số 145/2020/NĐ-CP ngày 14/12/2020 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về điều kiện lao động và quan hệ lao động.
Phân tích chi tiết
Các trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động
Theo Điều 34 Bộ luật Lao động 2019, hợp đồng lao động chấm dứt trong các trường hợp sau:
- Hết hạn hợp đồng lao động, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 177 của Bộ luật này.
- Đã hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
- Hai bên thỏa thuận chấm dứt hợp đồng lao động.
- Người lao động bị kết án phạt tù nhưng không được hưởng án treo hoặc không thuộc trường hợp được trả tự do theo quy định của pháp luật, tử hình hoặc bị cấm làm công việc ghi trong hợp đồng lao động theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
- Người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam bị trục xuất theo bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật, quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
- Người lao động chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết.
- Người sử dụng lao động là cá nhân chết; bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Người sử dụng lao động không phải là cá nhân chấm dứt hoạt động, bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ra thông báo không có người đại diện theo pháp luật, người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
- Người lao động bị xử lý kỷ luật sa thải.
- Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 35 của Bộ luật này.
- Người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động theo quy định tại Điều 36 của Bộ luật này.
- Người sử dụng lao động cho người lao động thôi việc theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật này (thay đổi cơ cấu, công nghệ hoặc vì lý do kinh tế; sáp nhập, hợp nhất, chia, tách doanh nghiệp, hợp tác xã; bán, cho thuê, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển nhượng quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã).
- Giấy phép lao động hết hiệu lực đối với người lao động là người nước ngoài làm việc tại Việt Nam theo quy định tại Điều 156 của Bộ luật này.
- Bị tạm đình chỉ công việc theo quy định tại Điều 128 của Bộ luật này mà hết thời hạn tạm đình chỉ nhưng người lao động không được phục hồi công việc.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động (Điều 35 BLLĐ 2019)
Người lao động có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải báo trước cho người sử dụng lao động một thời hạn nhất định, trừ một số trường hợp đặc biệt không cần báo trước.
- Thời hạn báo trước:
- Ít nhất 45 ngày đối với hợp đồng lao động không xác định thời hạn.
- Ít nhất 30 ngày đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng.
- Ít nhất 03 ngày làm việc đối với hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng.
- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù, thời hạn báo trước có thể dài hơn theo quy định của Chính phủ (Nghị định 145/2020/NĐ-CP).
- Các trường hợp không cần báo trước:
- Không được bố trí theo đúng công việc, địa điểm làm việc hoặc không được bảo đảm điều kiện làm việc đã thỏa thuận, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của Bộ luật này.
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 119 của Bộ luật này.
- Bị ngược đãi, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi nhục mạ, hành vi làm ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân phẩm, danh dự; bị cưỡng bức lao động.
- Bị quấy rối tình dục tại nơi làm việc.
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này.
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.
- Người sử dụng lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng lao động.
Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động (Điều 36 BLLĐ 2019)
Người sử dụng lao động cũng có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động nhưng phải có căn cứ và tuân thủ thời hạn báo trước.
- Các căn cứ:
- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc theo hợp đồng lao động.
- Người lao động bị ốm đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động không xác định thời hạn; đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng; hoặc quá nửa thời hạn hợp đồng lao động đối với người làm việc theo hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
- Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, địch họa hoặc di dời, thu hẹp sản xuất, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi biện pháp khắc phục nhưng vẫn buộc phải giảm chỗ làm việc.
- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 32 của Bộ luật này.
- Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.
- Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
- Người lao động cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của Bộ luật này khi giao kết hợp đồng lao động làm ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
- Thời hạn báo trước: Tương tự như người lao động, tùy loại hợp đồng và ngành nghề.
- Các trường hợp người sử dụng lao động không được đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 37 BLLĐ 2019):
- Người lao động ốm đau hoặc bị tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo chỉ định của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
- Người lao động đang nghỉ hằng năm, nghỉ việc riêng và các trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
- Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Trách nhiệm của các bên khi chấm dứt hợp đồng lao động (Điều 48 BLLĐ 2019)
- Trong thời hạn 14 ngày làm việc kể từ ngày chấm dứt hợp đồng lao động, hai bên có trách nhiệm thanh toán đầy đủ các khoản tiền có liên quan đến quyền lợi của mỗi bên, trừ trường hợp quy định tại khoản 2 Điều này.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm hoàn thành thủ tục xác nhận thời gian đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp và trả lại cùng với bản chính giấy tờ khác nếu người sử dụng lao động đã giữ của người lao động.
- Người sử dụng lao động có trách nhiệm cung cấp bản sao các tài liệu liên quan đến quá trình làm việc của người lao động nếu người lao động có yêu cầu. Chi phí sao, gửi tài liệu do người sử dụng lao động chi trả.
Trợ cấp thôi việc và trợ cấp mất việc làm
- Trợ cấp thôi việc (Điều 46 BLLĐ 2019): Người sử dụng lao động có trách nhiệm trả trợ cấp thôi việc cho người lao động đã làm việc thường xuyên từ đủ 12 tháng trở lên khi hợp đồng lao động chấm dứt theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 5, 6, 7, 9 và 10 Điều 34 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc được trợ cấp một nửa tháng tiền lương.
- Trợ cấp mất việc làm (Điều 47 BLLĐ 2019): Người sử dụng lao động trả trợ cấp mất việc làm cho người lao động đã làm việc thường xuyên cho mình từ đủ 12 tháng trở lên mà bị mất việc làm theo quy định tại Điều 42 và Điều 43 của Bộ luật này, mỗi năm làm việc trả 01 tháng tiền lương nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương.
Ví dụ thực tiễn
Theo VnExpress, vào tháng 7/2023, Tòa án nhân dân quận 1, TP.HCM đã xét xử vụ án tranh chấp lao động giữa một nữ giám đốc và công ty cũ. Nữ giám đốc này bị công ty chấm dứt hợp đồng lao động với lý do không đạt chỉ tiêu KPI trong nhiều tháng liên tiếp. Phía công ty cho rằng việc chấm dứt hợp đồng là hợp pháp vì đã tuân thủ quy trình đánh giá và thông báo trước theo quy định. Tuy nhiên, nữ giám đốc khởi kiện yêu cầu công ty bồi thường vì cho rằng việc đánh giá KPI không minh bạch và việc chấm dứt hợp đồng là trái pháp luật. Sau quá trình xét xử, Tòa án đã tuyên buộc công ty phải bồi thường cho nữ giám đốc một khoản tiền nhất định, bao gồm lương trong những ngày không được làm việc, tiền trợ cấp thôi việc và các khoản khác, do công ty chưa thực hiện đúng đầy đủ các thủ tục pháp luật khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động, đặc biệt là về việc chứng minh người lao động “thường xuyên không hoàn thành công việc” một cách khách quan và có căn cứ. Ví dụ này cho thấy tầm quan trọng của việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định về căn cứ và thủ tục khi người sử dụng lao động muốn chấm dứt hợp đồng lao động, ngay cả khi có lý do chính đáng như không đạt KPI.
Khuyến nghị pháp lý
Đối với người lao động
- Nắm rõ các quyền và nghĩa vụ của mình khi chấm dứt hợp đồng lao động, đặc biệt là các trường hợp được đơn phương chấm dứt mà không cần báo trước hoặc các khoản trợ cấp được hưởng.
- Lưu giữ cẩn thận các tài liệu liên quan đến hợp đồng lao động, quá trình làm việc, bảng lương, và các văn bản thông báo.
- Khi có tranh chấp, nên tìm kiếm sự tư vấn từ luật sư hoặc chuyên gia pháp lý để bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình.
Đối với người sử dụng lao động
- Tuyệt đối tuân thủ các quy định của Bộ luật Lao động và các văn bản hướng dẫn khi chấm dứt hợp đồng lao động, đặc biệt là về căn cứ, thời hạn báo trước và thủ tục.
- Đảm bảo tính minh bạch, khách quan trong quá trình đánh giá hiệu suất làm việc của người lao động.
- Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thanh toán tiền lương, trợ cấp thôi việc/mất việc làm, và hoàn trả sổ bảo hiểm xã hội đúng thời hạn.
- Theo nhận định của các chuyên gia pháp lý từ Phan Law Vietnam, việc tuân thủ đúng quy trình và thủ tục pháp luật không chỉ giúp doanh nghiệp tránh được các rủi ro pháp lý, tranh chấp lao động tốn kém mà còn xây dựng được môi trường làm việc chuyên nghiệp, công bằng.